Hãy
nằm im và lắng nghe
những vũng nước xanh lơ
xôn
xao trong đầu
Cổ
Ngư
Tôi không nhớ rõ đã liên lạc với nhà văn Kiệt Tấn từ lúc nào, nhân chuyện gì.
Hình như bắt đầu bằng điện thoại. Ông gọi cho tôi trước, hay ngược lại, cũng
quên tuốt luốt! Chắc vì cái mốc khởi đầu ấy, với tôi, không phải là một sự kiện
cực kỳ quan trọng, bắt người ta phải ghi nhớ, để sau đó một năm, năm năm, mười
năm, hai mươi năm, ba mươi năm, một trăm năm sau, lại lôi ra làm sinh nhật,
tưởng niệm, dựng bia, đặt tượng, vỗ tay hay nhỏ lệ. Tôi kinh ngạc, rồi quen dần
với cách nói chuyện qua điện thoại của ông, giọng miền nam lề nhề, lâu lâu lại
bị ngắt quãng rồi được tiếp tục bằng một tiếng toóc rất ư gợi cảm! Ông
vừa gọi phone, vừa uống, vừa say. Và tôi ngồi ở đầu dây bên này, loay
hoay tìm cách giải mã những điều ông đang nói. Nói chuyện điện thoại đâu đôi ba
lần, rồi cũng được dịp gặp mặt. Nhìn dáng ông xách cái túi nhựa của siêu thị
Tang Frères đứng xớ rớ chờ vợ đi chợ trong khu tam giác vàng Chinatown của quận
13 Paris hay hì hụi kéo một xe đầy sách lên cho Thư viện Diên Hồng, tôi không
nghĩ đó là một Kiệt điên vì mê, cuồng vì yêu từ thời «Bến đò trao thơ», «Đêm cỏ
tuyết», qua «Người em xóm học», «Yêu em xứ tuyết» cho đến «Sáng dậy nghe em
khóc», một chàng playboy bảnh toỏng chạy quanh nhiều cuộc tình với những
Hoa, Tuyết, Ánh, Diane, Louise, Danyèle, Hường... Tôi hình dung ra một Út Kiệt
với bộ bà ba trắng lụa lèo thong dong giữa ruộng vườn bát ngát miền nam. Vĩnh
Long, Bạc Liêu, Mỹ Tho, có phải là những nơi ấy không? Vậy mà ông đứng đó, cũng
như tôi, với chiếc parka dày sụ, cổ quấn mấy vòng khăn quàng, rồi nón,
rồi găng, giữa gió lạnh đất Pháp. Mấy chục năm sống nơi xứ người, từ thời du học
cho đến ngày «xin nhận nơi này làm quê hương bất đắc dĩ», với vóc đậm, mặt
vuông, Kiệt Tấn vẫn giữ nguyên cho mình dáng vẻ chân chất của người đồng bằng
sông Tiền sông Hậu, dường như lúc nào cũng sẵn sàng ngả ra mời: dzô một
ly, rồi xuống sáu câu vọng cổ thiệt mùi. Vậy mà...
Thuở nhỏ, tôi có dịp sống khoảng bốn năm ở Thủ Đức. Cho đến bây giờ, tôi biết,
đó vẫn là những tháng năm tôi được gần gũi nhất với thiên nhiên, dù cái khoảng
thiên nhiên thời thơ bé đó chỉ gồm một vuông sân trước với ba tàng trứng cá, một
hàng rào dâm bụt đơn đỏ hồng, một dãy dâm bụt kép đủ màu, vài cây sứ cùi, và một
mảnh vườn sau đủ rộng để có chuồng gà chuồng vịt, ao thả rau muống và cá rô, một
cây ổi, một cây mít, một cây chanh, một cây phượng, bụi xả, bụi chuối, mấy thân
đu đủ khẳng khiu đeo nặng trái. Nhưng cho một đứa trẻ ở những năm đầu tiểu học,
đó đã là khoảng sân chơi khổng lồ, với cả một microcosmos - vũ trụ vi mô
- phất phới nhiều cánh bướm muôn màu, chuồn chuồn hổ, chuồn ớt, chuồn kim, chuồn
voi, lúc nhúc nào dế than, dế lửa, dế cơm, dế trũi, cào cào, châu chấu, sè sành,
bọ ngựa, bọ cam, bọ sít, ốc sên, ốc ma, sâu róm, kiến đen, kiến lửa, nòng nọc,
thằn lằn, kỳ nhông, đôi khi lạc loài cả một trự cóc xù xì hay vệt nhái bén xanh
mướt vút xuống ao. Cùng với những đứa bạn đồng lứa, chúng tôi chơi trong thiên
nhiên, chơi cùng thiên nhiên. Thấm nước miếng vào trái đậu nổ, quơ gót chân trên
đám lá mắc cỡ, xách thùng đổ nước đầy hang dế cơm, hay để một chàng kiến tướng
đen trùi trũi banh ngàm đọ sức với gã kiến lửa có cái đầu to bằng hạt mè, bóng
láng, đỏ lựng, nhìn phát nể! Thiên nhiên thơm mẻ cá rô chiên dòn rụm, hăng mùi
lá chanh non mới hái hay nồng nàn khắp vườn ngày mít căng, da nứt. Thiên nhiên
chiêm chiếp mở tròn con mắt nhìn đời sau cú khẻ mỏ quyết định của từng lứa gà,
lứa vịt hay nhỏn nhẻn ngon lành cùng chiếc răng thỏ cắn ngập vào thân xanh càng
cua tròn mướt... Đùng một cái, gia đình dọn về Sài Gòn, còn tôi ngơ ngác như
đàn bò vào thành phố (*). Khu Đa Kao. Cầu Bông, cầu Sắt với con kinh đen kịt
bùn. Ngôi chợ ồn ào quà bánh. Căn nhà thiếu ánh sáng, không cửa sổ, chỉ có những
khoảng trổ phía trước phía sau, vừa đủ để hứng khí trời, để thấy một khoảnh xanh
trên cao và mái ngói đỏ xỉn màu rêu của nhà hàng xóm. Phía trước cũng có sân.
Tráng đặc xi-măng. Phía trước cũng có cây. Thân bông giấy leo, gai tua tủa, cứng
ngắc. Tôi mất thiên nhiên. Vùng vằng đi tìm. Con gà nhép, con vịt lụa nuôi trong
lồng chúc mỏ vào ăn trong lòng bàn tay tôi, rồi cũng chết vì thiếu hơi mẹ. Con
nhen mua ở Chợ Cũ, loài sóc nhỏ có vằn đen trắng dọc sống lưng, nâng lát chuối
cắt bằng hai tay nhỏ xíu, rồi cũng chết trong lồng vì nhớ rừng. Thành phố, căn
nhà cùng với nhựa đường, xi măng, gạch ngói chung quanh đã biến thành chiếc
chuồng khổng lồ, nhốt tôi trong đó, rồi vô tình, tôi lại bắt chước người lớn,
nhốt những con vật đáng thương vào chiếc lồng nhỏ hơn. Và chúng chết. Nhưng chỉ
thêm vài năm sau nữa thôi, là đến 1975. Tháng tư. Cùng với những tan loạn, đau
thương của người lớn, thêm một lần nữa, tôi mất: tuổi thơ.
Không thể nào tìm lại được tuổi thơ trong thời khốn khó, tôi cố vớt vát thiên
nhiên bằng cách thỉnh thoảng chui vào sở thú, lang thang trong vườn Tao Đàn hay
ngồi hàng giờ bên thành hồ ngôi chùa Tàu thờ Ngọc Hoàng ở gần nhà, nhìn vài đầu
rùa nhấp nhô chìm nổi trên mặt nước sóng sánh những đốm nắng hiếm hoi lọt được
qua mấy tàng cây vú sữa rậm lá. Tôi đi tìm lại cái microcosmos của mình
qua bước chân phiêu lưu của chàng dế mèn trong truyện Tô Hoài. Tôi mơ về một
thiên nhiên hoang dã còn vắng bóng người với «Hương rừng Cà Mau» của Sơn Nam.
Rồi khi qua đến Pháp, tôi gặp Kiệt Tấn. Và tôi thấy mình gần với ông hơn so với
Tô Hoài hay Sơn Nam. Ngồi trong métro, tôi chảy nước mắt khi đọc:
«...Bên bờ giếng, tôi dành một khoảng đất nhỏ để chôn cất mấy con vật đã cùng
tôi bầu bạn một thời: chim sáo, cá lia thia, dế than, trâu đất, cu cườm... Tôi
không chơi đá cá đá dế. Cá và dế của mấy thằng lỏi trong xóm cho đá với nhau tới
lúc trầy vi tróc vẩy, sứt càng gãy gọng ngất ngư hết mới chịu quăng ra. Tôi lượm
về rán lấy nước muối và đất sét chập chộ cho tỉnh hồn. Mấy thương binh gượng
sống ngắc ngoải thêm được ít bữa mới chịu nhắm mắt lìa đời. Tôi khóc lóc và đem
đi chôn ở nghĩa địa riêng của mình bên kia bờ giếng.»
Thằng bé-tôi lúc sáu tuổi không có được cái tâm bồ tát như thằng bé Kiệt lúc sáu
tuổi, và những con nhen, con gà nhép, con vịt lụa chết trong lồng bị vứt vào
thùng rác, đổ đi. Mảnh sân thành phố đặc cứng xi măng, làm gì có đất để đào mà
chôn với cất, mặc dù con vịt lụa tôi nuôi có khác gì lắm so với em vịt vàng của
Út Kiệt:
«...Lép kép! Lép kép! Con vịt con thò chiếc mỏ vàng nhỏ xinh xắn rỉa mấy hột cơm
tôi vừa mớm ra cho nó ở miệng. Nó ngước lên nuốt mấy hột cơm, chiếc cổ nhỏ xíu
ngửng lên trời ngửa ra sau, xong nó giương đôi mắt khù khờ ngó tôi kêu lép kép
chờ đợi. Tôi đưa vịt con cạ cạ lông nhung mịn của nó lên má mình, lòng rạt rào
sung sướng, thương quá là thương! Tôi sáu tuổi, con vịt con vừa nở được năm
ngày. Nó đưa chiếc mỏ rỉa trong vành tai tôi nhột nhột khiến tôi rụt đầu ngoẻo
cổ qua một bên. Vậy mà đã ghê. Vịt con thủ thỉ chuyện trò với tôi, lép kép! lép
kép!... Chỉ có một mình tôi hiểu được em tôi muốn nói gì.
Tôi mở tay ra. Con vịt nhỏ nằm gọn lỏn trong hai bàn tay tôi, ngoan ngoãn, lép
kép! lép kép! Toàn thân con vịt màu vàng, lông tơ mịn màng non nớt thơm tho, mỏ
và chân hơi ửng màu cam, trên mỏ có chấm hai lỗ thở nhỏ xíu, mắt tròn vo đen lay
láy, ngây thơ ngờ nghệch. Lép kép! Lép kép! Tôi lại mớm cho nó mấy hột cơm. Tôi
dặn nó kêu nho nhỏ, sợ má nó nghe được chạy tới đòi lại...»
Cái tình của tôi đối với những con vật nuôi chỉ dừng lại ở những giọt nước mắt
tuổi thơ, ở cái bần thần suốt tuần, ở việc bỏ cơm một buổi, nhưng với Kiệt thì
khác, cái đau xé lòng hơn nhiều:
«...Chiếc xe cam nhông thứ hai lăn tới áng khuất, cụm lông vàng mịn không còn
ngó thấy đâu nữa, tôi chỉ kịp nghe một tiếng «Chét» thảm thương bên tai, thôi
rồi! Chết em tôi rồi, tôi ngã quỵ xuống lề đường, đầu gối đập lên đá cục mà
không cảm thấy đau đớn gì hết!... Đoàn xe tiếp tục lăn qua chậm chạp, từ từ,
nhưng tiếng động cơ phát ra xầm xì không đè át được tiếng «chét! chét!» thảm
thương nhỏ nhít của em tôi còn đang chấn động từng chập trong cùng tận ruột gan
mình. Tôi gẫy quặp người tới trước, hai tay cấu lấy bụi cỏ lông gà, ghịt kéo để
cố dằn tiếng nấc đang cướp mất hơi thở mình... Bụi cỏ trốc gốc, tôi lại té ngửa
ra sau, một chân lọt xuống mương nước, tôi nấc tiếp liền mấy tiếng bứt ngang hô
hấp, miệng không thể nào khép lại được nữa, tôi nhăn hàm răng xiết ăn ngó trời,
lệ tuôn đầm đìa lai láng, trời mây trên cao tan loãng thành vũng nước mắt không
còn hình thù gì nữa, tất cả mờ run mịt mùng, lung linh nhòe nhoẹt. Hết rồi! Em
vịt vàng nhỏ của tôi ơi! Em đã chết, bỏ tôi thiệt rồi!...»
Em
vịt vàng
chết vào những ngày giáp Tết, nên chú bé Kiệt, dù giờ đây đã thành ông nội, ông
ngoại, vẫn rưng rưng nhớ về mỗi khi xuân đến:
«...Nơi tôi ở bây giờ, ngoại ô Paris, không có mai vàng. Chỉ có anh đào trổ một
màu hường phơn phớt lợt mọc trên dốc đồi thoai thoải bên những cội lệ liễu xõa
tóc dịu dàng.
Và
năm nay đào lại nở!
Phải, năm nào mà đào lại chẳng nở. Đào lại nở, tôi lại nhớ em tôi, em vịt vàng
nhỏ xinh xắn tội nghiệp. Mỗi năm, khi vừa chớm đông, từng bầy vịt hoang và ngỗng
trời từ Bắc Âu vỗ cánh bay ngang Paris, rồi di chuyển về miền Nam để trốn lạnh,
sang đến tận Châu Phi.
Khi ngó lên trùng trùng chấm đen lướt qua cao vút trên đầu, lần nào tôi cũng tự
hỏi không biết có em vịt vàng nhỏ của tôi trong bầy chim hoang đó hay không, và
lần nào tôi cũng thầm lo ngại không biết em tôi có được đủ ấm như một thuở xa
xưa nào khi Tết gần đến, tôi đã từng ôm em úm trong lòng để mớm cơm cho em ăn và
chuyện trò cùng em thủ thỉ. Nhưng tôi lại tự nhủ chắc là em không có mặt trong
bầy vịt đang bay trên cao tít, bởi lẽ quê hương của em, quê hương của tôi, quê
hương của anh em mình không phải ở đây. Tôi hình dung giờ này chắc em đang tung
tăng bơi lội trong một vùng nước mặn ấm áp quanh năm trước mương lộ của nhà tụi
mình ở Xóm Mới, miệt Hậu Giang phù sa mặn mòi, đồng ruộng phì nhiêu quấn quít
sông ngòi đặc ngừ tôm cá...»
Rồi cũng có dịp đến thăm nơi tôi ở bây giờ, ngoại ô Paris, không có mai vàng,
chỉ có anh đào trổ một màu hường phơn phớt lợt. Căn appartement chênh
vênh nơi từng mười lăm một cao ốc. Có cả em vịt vàng ở đó nữa. Nhưng chỉ
là một mẫu vịt nhồi bông đứng cứng đơ tội nghiệp bên một hàng gáy sách. Nhà của
một người viết văn có nhiều sách. Dĩ nhiên, sách xếp dài trên kệ, ngăn nắp.
Nhưng bên cạnh, còn rất nhiều cây, lá xanh tươi, mướt bóng. Một chút không gian
nhiệt đới? Một chút không gian đồng bằng sông Cửu Long? Ai mà chẳng thèm, cái
một-chút-mà-thật-khó-tìm ở nơi chốn này, phải không? Trong khi người lớn bắt đầu
ăn uống, bắt đầu nói chuyện văn chương, chuyện nắng mưa, chuyện trên trời dưới
đất, thằng con hai tuổi rưỡi của tôi, đứa con nít duy nhất trong buổi gặp mặt,
lẩn thẩn chơi một mình. Như con chó nhỏ đi đánh hơi từng góc kẹt căn phòng lạ,
thằng bé lang thang chỗ này chỗ kia, cầm lên đặt xuống những con thú bắt gặp đây
đó trên con đường khám phá. Lâu lâu, thằng bé chạy lại há mồm xin miếng cơm, rồi
trở về góc của nó. Có lúc, khi xin cơm, nó cầm theo một con vật, giơ cao hỏi
chúng tôi: «Con gì đây bố? Con gì đây mẹ?». Tôi phải đe trước: «Con đừng làm hư
mấy con thú nhe, coi chừng ông rầy!», rồi mới trả lời nó, này là con trâu, kia
là đàn heo, nọ là gà trống, gà mái, gà con. Ở cái tuổi nhỏ xíu của nó, thằng bé
cũng đã thấy voi và hươu cao cổ trong sở thú, thấy vịt gà ngan ngỗng, bò dê lừa
ngựa, heo cừu thỏ... chuột ở trang trại gần nhà, nhưng tại những nơi đó, nó chỉ
được đứng xa xa để ngó qua chấn song chuồng, chứ làm gì được đưa tay sờ mó như ở
nhà ông Kiệt! Tôi nhìn quanh, và chợt hiểu, người đàn ông ngồi trước mặt cũng
đang rất thiếu thiên nhiên, đang rất thèm thiên nhiên. Ông đang bị nhốt trong
một chiếc lồng chật hẹp, và có phải luôn vùng vằng muốn tìm cách thoát ra, bằng
thật nhiều những chậu cây xanh lá, bằng thật nhiều những con thú ẩn hiện góc này
xó nọ quanh nhà? Con trâu bằng đất nung phủ verni bóng loáng kia, có phải
đã gợi lại một hình ảnh cũ:
«...Nhà ông Đương có được cặp trâu cổ khoẻ mạnh, mình mẩy phình lớn đen xám,
lông thưa đều cứng mướt, cặp sừng cong dài quớt ra hai bên cách nhau ngót một
thước bề rộng, dọc trên thân sừng có nhiều ngấn dợn hũng. Dáng trâu bậm trợn
hùng dũng như vậy mà cặp mắt trâu, trái lại, hiền lành ưu ái vô cùng, lông mi
trên mí mắt mọc đan khít nhau càng tô điểm cho ánh nhìn của mắt trâu thêm dịu
dàng. Theo truyền thuyết, trâu là hiện thân của một vị Bồ tát hạ thế để tế độ
cho nhân gian có lúa gạo mà ăn. Cấy cầy vốn việc nông gia, ta đây trâu đó ai mà
quản công. Bao giờ ngọn lúa còn bông, thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn.
Đại để tánh trâu rất hiền lành chậm chạp, tuy nhiên thỉnh thoảng cũng có lúc
trâu nổi máu hung hăng và cụng húc nhau ầm ĩ. Những lúc đó, không một ai can
nổi, lạng quạng có thể bị sừng trâu vít lòi ruột như chơi. Vì vậy, chú Tám dặn
hai đứa cháu mình một mẹo nhỏ là lúc nào đi chăn trâu cũng nên thủ sẵn trong
người một khúc sừng trâu gãy. Khi nào trâu cụng nhau hăng quá thì liệng khúc
sừng đó vào giữa hai đối thủ. Trâu nọ ngó trâu kia, thấy cặp sừng còn nguyên
vẹn, tưởng đâu sừng gãy nằm dưới đất là của mình, bèn bỏ chạy. Cuộc đấu sức đọ
sừng chấm dứt.»
Xóm gà vịt lít nhít nọ, có phải đã gây hứng để ông nhớ về những hình ảnh sống
động độc nhất vô nhị của một gã vịt cuồng dâm:
«Cùng lứa với con Mẫu Hậu là con vịt xiêm đực, hỗn danh Đại Bàng, tên này cũng
do ba tôi đặt. Con Đại Bàng mắc chứng cuồng dâm nên vịt xiêm, vịt ta, vịt lớn
hay vịt nhỏ gì đều cũng bị nó đạp mái ráo trọi. Cả gà ngỗng cũng bị nó hiếp dâm
luôn. Gà mái bị đã đành, gà trống cũng bị như thường. Gặp nhằm gà nòi đá độ, anh
chàng bị phang cho mấy cựa đổ máu dạt ra, mà rồi cũng không tởn. Ngay cả con heo
thiến má tôi nuôi trong chuồng cũng bị Đại Bàng đáp đại lên lưng mổ cắn trì kéo
lỗ tai heo và vặn vẹo cái đuôi vịt, không biết ý gì. Bận khác, bà chủ nhà của
tôi ra ngồi ở bãi cỏ khuất mà giải thủy, tưởng đã yên chí, ai dè Đại Bàng nằm
vùng ở đó tự lúc nào bèn đưa mỏ cứng ướm thử cái bàn ngồi của bà chủ một phát.
Bà la chói lói và chạy vô mắng vốn má tôi: bà bị con vịt phải gió của nhà tôi nó
rỉa. Ba tôi che miệng cười khúc khích nói nhỏ với anh Hai tôi: «Gặp tao, tao
cũng rỉa nữa... huống hồ là con vịt!»
Mãi về sau này, dung rủi lần nọ, khi đã tàn cuộc truy hoan trên mương lộ trước
nhà, Đại Bàng còn hừng chí vỗ cánh phùng xòe bản Hành Dâm Khúc mà quên thu hồi
báu kiếm. Xảy đâu có chàng cá lóc lội ngang nhác thấy, tưởng là mồi bở, trồi lên
đớp mất. Thế là... tàn đời bạo chúa! Nhưng Bạo chúa không chịu băng hà, cho nên
mới chết dân lành. Vì khi bị dâm hành mà đạp mái không được, Đại Bàng nổi điên
vỗ cánh bay lên ngọn cây rượt theo mấy con quạ và chim tu hú mà cắn mà mổ. Rồi
một chiều mưa gió nọ, Đại Bàng đã lướt gió tung mây vĩnh viễn ra đi, vịt cồ nhất
khứ bất phục phản (hay là bạo chúa đã xuống tóc đi tu?) Kể từ đó, thanh bình mới
thực sự được vãn hồi cho gà vịt heo ngỗng (và bà chủ nhà) trong Xóm Mới hiền hòa
của tôi.»
Un
clin d'oeil,
bất ngờ có thể gây bật cười với những tình huống ngộ nghĩnh, được kể lại bằng
một giọng văn không kém phần dí dỏm. Loài vật như biết khóc, biết cười, biết
thương, biết hận trong văn Kiệt Tấn. Đôi khi, chúng còn được ngòi bút Kiệt Tấn
đẩy lên cùng với nhiều hành trạng lạ lùng, quái gở:
«...Cái hiện tượng kỳ bí dị thường này cứ thỉnh thoảng lại thấy xảy ra ở đồng
quê vào những đêm trăng rằm, ngoài ruộng vắng. Như thể cả lươn lẫn rắn đều say
rượu trăng và bầy lươn vừa chếnh choáng vừa bị thôi miên lờ đờ tự động bò lên bờ
lểnh nghểnh để tình nguyện nộp mình cho rắn nuốt. Cũng không rõ bằng cách nào mà
cả hai lũ đều biết được nơi hẹn hò để lướt tới. Đầy cả một mương dài lúc nhúc
toàn những rắn và lươn quấn lấy nhau vặn vẹo uốn éo, thân nhớt và vảy mun lấp
loáng rờn rợn dưới trăng sáng. Cả hai loài bò sát đều ngất ngưởng truy hoan
trong cuộc dạ yến kỳ quặc, trong cuộc tế lễ ma quái mà cả hai phe chịu tế lẫn
phe nhận tế đều phải trả bằng mạng sống của mình. Rắn luôn luôn nuốt lươn khởi
sự bằng đầu. Rắn nhỏ hơn lươn, chỉ nuốt được phân nửa rồi cả hai đều nghẹt thở
mà chết. Rạng ngày, cả mương đầy nhóc những rắn và lươn dính chùm lẫn với nhau,
tàn cuộc hoan mê, không còn một mống nào sống sót.
Đôi khi thay vì lươn là rắn, cuộc dạ yến chỉ có độc toàn là những rắn và rắn
tham dự. Cả tập thể rắn bề ngoài mới ngó vô tưởng chừng như hỗn độn đó mà thiệt
ra bên trong lúc nào cũng chỉ gồm rặt hai loại rắn khác nhau mà thôi. Và lúc nào
lũ rắn nhỏ cũng nuốt trọng lũ rắn lớn hơn mình. Để rồi cả hai bầy đều chết tiệt
không còn một mống. Như một cuộc hò hẹn cùng định mạng khắc nghiệt, trói buộc
bất khả phân ly bởi tử thần tự kiếp nào, không có cách gì ngăn cản nổi. Một cuộc
tự sát tập thể, điên rồ, thúc bách, bất cưỡng.»
Đoạn văn khiến tôi nhớ ngay đến một khúc phim tài liệu của hãng Walt Disney được
xem ở Hội Việt-Mỹ, hồi nhỏ. Một loài gậm nhấm đào hang dưới đất, những con
lemmings, mỗi năm cứ đến mùa xuân, lại lũ lượt rùng rùng kéo nhau về những
triền đá ven biển rồi chen chân nhảy xuống nước để... chết chìm! Chỉ những con
chuột lạc bầy hay quá nhỏ, chưa đủ sức trẩy hội là còn sống sót, để tiếp tục gây
dựng nòi giống, chuẩn bị cho một cuộc tự sát tập thể vào mùa xuân năm sau. Không
người lớn nào trả lời nổi những câu hỏi «tại sao?» của tôi lúc đó. Khi lớn hơn
một chút, tôi nghĩ, có lẽ chiến tranh cũng là một cách tự sát tập thể của loài
người, để bớt nạn nhân mãn. Nhưng khác với con thú, con người xâu xé lẫn nhau,
khoan khoái nhìn đồng loại đau đớn dãy chết, trước khi đến lượt chính mình ngã
gục. Khác với con thú, con người văn minh ngày càng rời xa nguồn cội đơn sơ của
thiên nhiên, để mắc kẹt giữa chính cái màng nhện rối rắm do mình đan dệt nên, và
hối hận, than trách:
«...Dưới nội cỏ bệnh viện hoa vàng rực chói mắt. Không phải hoa mai. Từng cụm
nhiều nhánh từ dưới đất chỉa lên sai oằn bông vàng chi chít. Không thấy lá, hực
hỡ chóa lòa. Từng bầy chim sà xuống, loại chim đuôi ngắn ngủn không phải chim
sẻ, không phải chim sáo, cúi đầu mổ lia lịa, chạy lúp xúp trong cỏ, không thấy
chưn, tưởng như loài chim đồ chơi cơ động, lăn trên hai bánh lẩn khuất, chạy tới
chạy lui ngộ nghĩnh. Tôi thèm chạy trên cỏ. Lần nào ngó chim chạy trên bãi cỏ
nắng tôi cũng thấy mình ngu. Trời ơi! Sao hạnh phúc dễ ợt như vậy mà tôi không
với tới! Bao nhiêu lần tôi đến ngồi trong vườn Luxembourg suốt mùa xuân suốt mùa
hè để chỉ nghĩ đến chuyện thất nghiệp. Kìa xem con chim bồ câu đang tắm rửa rỉa
lông và kêu rù rù bên ống nước lủng có tia nước xịt ra nhỏ rức, nó đâu có phải
làm đơn xin việc kèm theo phiếu lý lịch có dán hình thắt cà vạt hẳn hòi như tôi.
Nọ xem con chim sẻ con đang chạy theo chim mẹ cánh xòe ra, mép vàng chưa mất
dấu, hả miệng chờ mồi, và mẹ nó hết sức kiên nhẫn tận tụy. Tình thương của trời
đất. Đời sống sờ sờ như vậy mà tôi tự ý ngoảnh mặt làm ngơ, giam mình trong ngục
tù do mình dựng ra và do mình cai quản...»
Và
cũng chính từ những con thiêu thân nhỏ nhít, những cánh bướm đêm dật dờ, những
dáng chim mỏng manh ấy, mà đôi khi con người ngộ ra được nhiều điều thú vị:
«...Con chim se sẻ lại bay lên, lại sà xuống, lại cắn lại mổ lên mẩu bánh mì.
Lần nào nhìn con chim se sẻ nhảy nhót, tôi cũng không khỏi bồi hồi. Con chim đẹp
đẽ hết sức. Đẹp đẽ không phải vì nó có bộ lông rực rỡ. Bộ lông nó hết sức giản
dị, nâu xám trộn lẫn, vậy thôi. Nhưng nó đẹp tại vì tôi ngó thấy nó đẹp. Biết
nhìn, thì con chim nào lại không phải là một con chim đẹp, bông hoa nào lại
không phải là một bông hoa đẹp, ngọn cỏ nào lại không phải là một ngọn cỏ đẹp?
Mỗi vật trong trời đất là một đẹp đẽ, một chiêm ngưỡng, một kỳ công, một nhiệm
mầu.
Con chim se sẻ lại mổ, lại ngó chừng, lại kêu chim chíp, lại mổ, lại ngó chừng,
lại sợ, lại dáo dác. Nhìn con chim nhỏ thưởng thức mẩu bánh mì và ham sống, tôi
xúc động sa nước mắt. Trời ơi! Cuộc sống đối với nó giản dị, đẹp đẽ và đáng sống
biết chừng nào!»
Bị
bứt rời khỏi xứ sở, xa cách cả với thiên nhiên, sống lơ lửng ở tầng lầu mười
lăm, một nơi tay chưa với tới trời mà chân đã không còn chạm đất, văn Kiệt Tấn
chất đầy kỷ niệm, đầy hình bóng cũ, đầy mùi hương, đầy tiếng động. Từ mùi chanh
ở một kỷ niệm gần, một không gian gần, vùng biển ấm miền Nam nước Pháp:
«...Gió đưa hương chanh chín mùi luồn qua mành lưới đan khít gắn ở cửa sổ. Bên
kia cửa sổ, vườn chanh đang khua lá giặt rửa dưới dòng trăng, rì rào suối
nguyệt. Lẫn trong hương chanh, còn có mùi biển mặn mà từ lòng vịnh dưới thấp ùa
lên. Cánh cửa sổ bằng cây tôi quên cài móc đập vào khung cửa - là lúc dây đàn
tôi đứt phựt? Cơn mơ «Vọng Nguyệt» một lần nữa lại trở về...»
Thoáng chốc, mạch hồi tưởng của người viết đã dẫn người đọc vút ngược về quá
khứ xa hơn, trên cùng một nơi chốn, Le Vieux Nice, để tự tình trong đêm bên
người yêu cũ, rồi vèo một mạch, vượt cùng lúc cả không gian, thời gian, trở lại
thuở thiếu thời với một mối tình vụng dại nơi bến đò. Miền Nam nước Pháp hay
miền Nam nước Việt? Nắng rám, gió lộng, biển mở ra bát ngát, mùi trái chín, mùi
thịt da... Ở đâu, cũng thấy tràn trề nỗi nhớ!
«Bạc
liêu là xứ quê mùa,
Dưới sông cá chốt, trên bờ Tiều châu.
Cơn gió chiều ào ạt xoáy quanh hàng chân cầu bê tông cốt sắt, lượn uốn vi vu
dưới gầm cầu rồi thốc vọng lên cơn gió mát mẻ lồng lộng. Chiều nào, hàng hàng
nam thanh nữ tú cũng đưa nhau từng cặp ra Cầu quay hứng gió. Những cơn gió rám
nắng đượm tẩm hương vị thịt da của Hậu giang lúa chín, đậm đà sức khỏe mặn mòi
của muối biển Cà mau. Nơi cuối điểm này của châu thổ sông Cửu long, xứ sở trương
rộng mũi phù sa hít thở không gian bát ngát của Thái bình dương mà ước mơ những
chuyến viễn du có bầy cá nược mướt mun phóng mình lội đua với ghe lườn trong
buổi chiều nắng quái.
Cầu quay bắc nhịp nối liền làng Vĩnh châu vào tỉnh lỵ Bạc liêu, một trong những
kho lúa tràn trề của miền Hậu giang với đồng ruộng cò bay thẳng cánh. Làng Vĩnh
châu dàn trải bãi bùn đen và cát mặn ra tận ranh giới của thủy triều đại dương,
tạo thành biển nhãn. Gọi biển nhãn bởi lẽ hai tiếng rừng nhãn không đủ sức mô tả
những hàng nhãn điệp trùng chiếm cứ nhiều diện tích mênh mông mút mắt dọc theo
ven biển. Những gốc nhãn cổ thụ xen lẫn chồi non, muôn vạn vòm nhãn tỏa tròn
trương xòe đọt nhãn mềm mại mướt tươi nhấp nhô trùng trùng đợt sóng xanh lục ùa
nhau xô tràn ra biển cả như muốn lấn ngược dòng thủy triều để vượt khơi, nếu
không có những chùm rễ tua tủa của rừng mắm ven biển cắm sào giữ lại. Những chùm
nhãn nơi đây tích tụ tinh anh ngọt thơm luyện cất từ cát bùn và gió biển, một sự
huyền nhiệm mà chỉ tay tạo hóa mới trổ tài làm nổi. Tới mùa nhãn chín, mùi nhãn
thơm lừng lay dậy sực nức khứu quan trong đêm tối, khiến cho trọn cả một vùng
lân cận bao la thao thức mất ngủ. Và mỗi năm, dòng họ nhãn lại tung ra một đòn
tuyệt kỹ: Nhãn Chú Út. Những trái nhãn cuối cùng, kết thúc cuộc đời của cội nhãn
sau hai mươi năm dâng hiến trái ngọt cho đời. Nhãn Chú Út lớn bằng trái chanh,
hột nhỏ bằng hột đậu đỏ. Lớp vỏ vàng nhám bên ngoài lột đi, lớp da non mỏng
trắng bên dưới bày lộ, bao bọc lấy cơm nhãn no đầy thanh khiết, cắn vào, vị ngọt
lẫn hương thơm vương vấn cả một đời khó quên.»
Kiệt Tấn yêu thiên nhiên. Và ông rất yêu mẹ của mình. Nên khi ông lồng hai tình
yêu ấy vào cùng một khung cảnh, người đọc bắt gặp được một hình ảnh quen thuộc
lắm, nhưng cũng tha thiết lắm:
«...Buổi trưa, khi ngồi vá áo bên cửa sổ, bà ngó tôi cười móm trong vuông nắng,
tự nhiên tôi có cảm giác đang nằm dưới một gốc tre già bên bờ ao, lá tre trên
cao thoảng gió rì rào, giọt nắng trộn lẫn bóng lá tre nhảy nhót trên khuôn mặt
tôi mát rượi, tôi thiu thỉu ngủ, giấc mơ thơ thới... Ôi ! Chi xiết êm đềm «nụ
cười tre trúc!» Cho dù má tôi không cười thành tiếng, tôi vẫn nghe có tiếng rì
rào thanh thoát của tre trúc rộng lượng chở che. Tôi là con trâu nghé nằm trong
bóng lá im buổi trưa hè nắng gắt...»
Thiên nhiên luôn song hành bên cuộc đời người viết, từ ruộng vườn làng mạc quê
hương, qua xứ tuyết khắc nghiệt Gia Nã Đại hay ầm ào tiếng sóng bên Bãi Thiên
Thần đêm Địa Trung Hải. Đôi khi, trong phút xuất thần, hai đối tượng «Tôi» và
«Thiên nhiên» đột ngột hội tụ, trùng chéo, tan nhập thành một:
«...Cô đơn mãnh liệt tới mức tạo cho tôi một cảm giác đau đớn vật chất, như một
mũi tên nhức nhối bắn phủng qua đầu. Cô đơn muốn ngất xỉu. Chung quanh chỉ có
tuyết rơi và tuyết rơi. Thình lình tôi chợt thấy mình tan trong tuyết: Tôi và vũ
trụ chỉ là một. Cảm giác gây sự ngây ngất mãnh liệt bàng hoàng. Cô đơn chợt tan
biến...»
Nhiều năm sau khi đọc văn Kiệt Tấn, tôi đã có dịp qua Tiền Giang đục lờ phù sa,
xuôi xe ngang nhiều xóm thôn trù phú, toòng teng mắc võng giữa bóng lá lao xao,
nghe tiếng eo óc của gà trưa gáy xen vào giữa bài vọng cổ. Tìm được ở đâu cái
cảm xúc vừa yên bình, vừa cô quạnh ấy, ngoài miền Nam nước Việt? Vậy mà, tôi
không được may mắn nghe hò, lần về quê ấy. Hay những câu hò điệu lý cũng
đã rơi rụng hết cả trong dĩ vãng, vì không đủ sức đương cự nổi với truyền thanh,
truyền hình, đầu máy karaoké của thời đại tân kỳ? Hình ảnh cũ, âm thanh
xưa, chẳng lẽ chỉ còn thoi thóp trên những trang sách, những thước phim chở đầy
hoài niệm?
«...Trời đã sáng hẳn. Vừng kim ô chói rọi trên mặt nước lóa chóa, chim nhạn dập
dìu trên nhánh nước mênh mông, gọi bầy lao nhao, cắn mổ kiếm mồi, tranh la xao
xác. Những cánh trắng xòe ra chở nắng tươi tốt đảo vòng trong không khí ẩm mát,
chốc chốc vụt chúi xuống, xớt một con cá vẩy bạc óng ánh rồi vút bay lên hớn hở
rộn ràng. Ghe lớn ghe nhỏ từng đoàn túa ra dòng thủy lượng lợïn cợn phù sa, chở
khẳm trong khoang hàng hóa, đồ ăn, vải vóc, trái cây, tuôn về chợ Phong điền,
chợ Cần thơ, chợ Cái răng cho mọi người từ thôn dã đến thị thành đua nhau mà sắm
Tết. Chú Ba cảm thấy sướng lây, lơi tay khoan xới mái dầm để thưởng thức cái
tiết xuân đang tỏa ra trên sông rộng, để ngắm nghía cái khí xuân đang bương bả
trong những cánh tay vặn chèo thúc bách. Một chiếc tam bản vượt lên dưới sức
khuấy động của cô gái trẻ sung mãn, nón lá mới tinh khôi ngã bóng tròn trên nách
áo vã mồ hôi khiêu khích. Chiếc tam bản qua mặt chiếc ghe cà dom chở dưa hấu
nặng khẳm, người đàn ông chống sào dài trên mui ghe hoát cười rộng miệng, đưa
tay ngoắc ngoắc cô gái rồi buông tiếng hò hoa nguyệt:
Hò
ơ ơ ớ...
(Chớ) Ngó lên Châu đốc Vàm nao
Thấy buồm em chạy như dao cắt (ờ ớ) lòng
Hò
ơ ơ ớ...
Bữa nay loan phụng hiệp bầy
Hò
chơi nhơn đạo (ờ ờ)
(Chớ) Hò chơi nhơn đạo sau vầy nhơn (ờ ớ) duyên (ơ ơ)...»
Nhưng, tại sao tôi cứ phải đặt quá nhiều câu hỏi? Tại sao tôi cứ phải thắc mắc
với những điều, những việc đã, đang và sẽ xảy ra, lớp này chồng lên lớp kia, xô
đẩy, nhấn chìm, bôi xóa? Vũ trụ có sự tuần hoàn của những chu kỳ, nảy
sinh-trưởng thành-tàn lụi, xuân-hạ-thu-đông, đêm-ngày, mới-cũ, thịnh-suy... Đã
cứ là như thế, từ muôn đời, nghìn kiếp. Những con cào cào non vẫn tiếp tục
bay nhảy tíu tít. Những con chim ngắn đuôi vẫn tiếp tục bay lên đáp xuống tìm
mồi. Đời sống vẫn tiếp diễn và đang tiếp diễn, không hề ngừng nghỉ một giây phút
nào. Đời sống vẫn luôn luôn sẵn đó, vốn nó sờ sờ như vậy, từ bao giờ, tự bao
giờ... Thắc mắc làm gì, tại sao làm gì. Một lúc nào đó, hãy gạt bỏ hết mọi
tất bật eo sèo của cuộc sống, nhắm mắt, tĩnh tâm, yên, để nghe: thiên nhiên
quanh ta đang phập phồng sống-chết, trong cái lẽ tự nhiên, thường tình nhất của
đất trời:
Hãy nằm im
và
đừng hỏi
tại sao
đừng hỏi tại sao
những con ruồi say nắng
rụng cánh
nằm chết
trên bàn tay ấm áp
của mùa hè
Khởi viết sau Giao Thừa
Bagnolet - Choisy-le-Roi - 01-03.2006
===================================================================
(*) Trích từ bài hát « Du
Mục » của nhạc sĩ
Trịnh Công Sơn
Những đoạn in nghiêng trong bài viết được trích từ các truyện ngắn: «Em vịt vàng
nhỏ của tôi ơi», «Em điên xõa tóc», «Vườn chanh miệt biển», «Nụ cười tre trúc»,
«Chuông ngân chạnh nhớ yêu đầu», «Trang kinh trên đồi», truyện dài «Phù sa lớp
lớp» và bài thơ «Biết bao giờ» của nhà văn Kiệt Tấn.